Monday, July 1, 2019

Tại Sao Nên Tham Gia Vào Việc Kiểm Kê Dân Số Tại Hoa Kỳ

Vài điểm quan trọng về việc Thống Kê Dân Số mổi 10 năm 




     Tham gia trong tiến trình kiểm kê dân số cũng là một cách để bảo đảm cộng đồng chúng ta có tỷ lệ đại diện công bằng trong các cơ quan chính trị. Đó là con số có thể trình bầy để được cung cấp những dịch vụ cần thiết trong tương. Ít ai biết được tại Hoa Kỳ một tộc dân có thể nhờ vào yếu tố này mà có được tương lai vững mạnh hơn. 

     Trước hết chúng ta cần hiểu được chúng ta là ai khi cùng sống trong một quốc gia. Đó là lý do vì sao phải có cuộc thống kê dân số ở nước Mỹ. Cuộc Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ đếm từng người thường trú ở nước Mỹ và được tiến hành mỗi 10 năm một lần theo quy định của Điều I, Chương 2 của hiến pháp Mỹ. 

    Số đại biểu của mỗi tiểu bang trong Hạ Viện Hoa Kỳ cũng được xác định căn cứ vào dữ liệu thu thập được qua cuộc thống kê này. Các chính quyền tiểu bang và địa phương cũng dùng dữ liệu thống kê dân số của từng vùng để phân định các khu bầu cử - bao gồm bầu cử Quốc Hội, nghị viện tiểu bang, hội đồng thành phố hay quận hạt, và các hội đồng học khu - để bảo đảm mỗi cộng đồng dân cư có tỷ lệ đại diện tương xứng ở mọi cấp bậc chính quyền. Các dịch vu cần thiết cũng theo đó mà được triển khai.

     Không những thế, các dữ liệu thống kê còn được sử dụng trong việc phân bổ hàng tỷ đô la trong ngân quỹ liên bang cho các cộng đồng địa phương để chi trả nhiều dịch vụ mỗi năm, bao gồm:


  • Các dịch vụ khẩn cấp
  • Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
  • Các Trung Tâm Huấn Nghệ ngôn ngữ  
  • Trường học
  • Đường xá
  • Trung tâm sinh hoạt dành cho người cao niên, v.v.

     Cuộc Thống Kê Dân Số mổi thập niên là phong trào dân vận lớn nhất ở đất nước Hoa Kỳ. Mổi khi đến kỳ hạn, tất cả mọi gia hộ ở nước Mỹ và Puerto Rico đều được gởi một phiếu thống kê ngắn gọn gồm10 câu hỏi. Khoảng 74 phần trăm gia hộ đã gởi lại phiếu thống kê qua đường bưu điện. Số người trong các gia hộ còn lại được đếm bởi những nhân viên thống kê đến tận nhà ở từng khu để thu phiếu.

     Dù cho quý vị có nhiệt tình trả lời các câu hỏi trên phiếu hay không, thì cũng có thể đơn dản là ký tên sát nhận số người trong gia đình và gởi trả phiếu qua bưu điện. Đừng tiếc kiệm chỉ vài phút mà mất đi quá nhiều quyền lợi mà lẽ ra quý vị nên có.


Thursday, March 24, 2016

NIH tuyên bố Ngày Lao Thế giới 2016


Trong ngày Bệnh lao (TB) Thế Giới năm 2016, Viện dị ứng và bệnh truyền nhiễm (NIAID), trực thuộc Viện Y tế quốc gia, khẳng định cam kết của mình để nghiên cứu cách để hiểu rõ hơn, ngăn ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh lao. Tháng Ba ngày 24 vào năm 1882 khi nhà vi sinh học người Đức Robert Koch tuyên bố ông đã phát hiện ra vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis (MTB), một vi khuẩn gây bệnh lao - bệnh trong không khí thường tấn công vào phổi. Ngày Chống lao Thế giới chủ đề năm 2016 là Unite để kết thúc TB,và ngày nay NIAID gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và cộng đồng nghiên cứu toàn cầu, làm nổi bật một số những nỗ lực lớn của chúng tôi để giúp giảm tử vong vì lao bằng 95 phần trăm và giảm tỷ lệ mắc bệnh lao bằng 90 phần trăm vào năm 2035.

Mặc dù có những tiến bộ gần đây, bệnh lao vẫn là một trong các bệnh chết người của thế giới. Tỷ lệ lao trên toàn thế giới đã giảm 18 phần trăm kể từ năm 2000. Tuy nhiên, vào năm 2014 căn bệnh này vẫn gây ra 9,6 triệu người trên toàn cầu bị bệnh, và giết chết 1,5 triệu người, chủ yếu là ở các nước đang phát triển, theo WHO. TB cũng là một nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người nhiễm HIV / AIDS: vào năm 2015, một trong ba trường hợp tử vong ở những người nhiễm HIV trên toàn thế giới là do thuốc TB.


Mặc dù hầu hết bệnh lao có thể chữa được, hình thức nhất định của các vi khuẩn gây bệnh lao đang kháng với những loại thuốc được thiết kế để tiêu diệt chúng. bệnh nhân Tuân thủ để điều trị thì đã khó khăn vì hầu hết các phác đồ đòi hỏi phải uống thuốc hàng ngày trong sáu tháng đến hai năm. Sự xuất hiện của đa kháng (MDR) và kháng thuốc diện rộng (XDR) TB đã gây ra những trở ngại đáng kể trong nỗ lực để điều trị và chữa bệnh hiệu quả, và nhấn mạnh sự cần thiết của các loại thuốc mới.

Theo WHO, trong tổng số 480.000 trường hợp MDR-TB vào năm 2014, 190.000 người (40 phần trăm) qua đời. Để phù hợp với các mục tiêu của Nhà Trắng Kế hoạch hành động quốc gia Chống MDR-TB, chương trình nghiên cứu của NIAID hỗ trợ việc phát hiện ra các loại thuốc kháng sinh mới và tiến hành các thử nghiệm lâm sàng, thử nghiệm phác đồ điều trị khác nhau để giảm bớt gánh nặng của MDR-TB và XDR-TB.

NIAID hỗ trợ các tập đoàn khác nhau và cách tiếp cận mở rộng tất cả các lĩnh vực phát triển thuốc lao, từ sàng lọc các hợp chất có triển vọng trong các mô hình động vật để thử nghiệm độ an toàn và hiệu quả của thuốc trong các thử nghiệm lâm sàng. Một mục tiêu chính là để rút ngắn thời gian của các phác đồ điều trị chuẩn cho bệnh lao. Trong một thử nghiệm của NIAID hỗ trợ, các nhà điều tra đang thử nghiệm một liều cao hơn của thuốc rifampin trong tuyến đầu tiên qua một thời gian điều trị ngắn. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu của NIAID đang cộng tác với các nhà điều tra quốc tế về nghiên cứu phương pháp điều trị bệnh lao mới. Ví dụ, NIAID và cộng tác viên đã tiến hành một thử nghiệm trong số hơn 1000 bệnh nhân MDR-TB và XDR-TB ở Hàn Quốc và Trung Quốc đã chứng minh hiệu quả của thuốc linezolid để điều trị các XDR-TB.

công cụ mới chẩn đoán đang được phát triển để phát hiện nhiễm MTB ban đầu chính xác hơn và để xác định và theo dõi các chủng kháng thuốc. Nhiều quốc gia vẫn chẩn đoán bệnh lao bằng cách kiểm tra các mẫu đờm dưới kính hiển vi để phát hiện vi khuẩn bệnh lao; Cách tiếp cận này có thể mất một ngày để hoàn thành và không thể chẩn đoán các chủng kháng thuốc. NIAID đã đóng góp vào sự phát triển của các xét nghiệm chẩn đoán GeneXpert, có thể phát hiện bệnh lao và lao kháng trong hai giờ. Kiểm tra hiện được sử dụng ở nhiều quốc gia, và NIAID hỗ trợ chẩn đoán lao lâm sàng Research Consortium - một nhóm các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Nam Phi, Uganda, Brazil và Hàn Quốc - đang làm việc để mở rộng khả năng các bài kiểm tra để phát hiện chính xác XDR-TB. NIAID cũng đang tài trợ cho một dự án quy mô lớn tại Trung tâm bộ gen bệnh truyền nhiễm tại Viện Broad để xác định trình tự bộ gen của các chủng kháng thuốc của MTB. Những dữ liệu này sẽ giúp phát triển các chẩn đoán lao và thử nghiệm sự nhạy cảm của thuốc nhanh chóng cho MDR-TB và XDR-TB.

WHO ước tính rằng khoảng một phần ba dân số thế giới đang tiềm tàng nhiễm MTB, có nghĩa là họ không biểu hiện triệu chứng của bệnh lao . Một người bị nhiễm lao tiềm ẩn có nguy cơ 5 đến 10 phần trăm của việc phát triển TB, lây truyền trong suốt cuộc đời của mình. NIAID Lao Nghiên cứu Các đơn vị Chương trình đã giúp xác định chỉ dấu sinh học để xác định các giai đoạn nhiễm trùng khác nhau trong các động vật và con người để kiểm tra lý do tại sao hầu hết mọi người bị nhiễm lao tiềm ẩn không phát triển bệnh.

Vắc-xin an toàn và hiệu quả là rất quan trọng để các nỗ lực kiểm soát bệnh lao trên toàn cầu . Các Bacille Calmette-Guérin (BCG) vắc-xin phát triển vào năm 1921 hiện đang là thuốc chủng ngừa chỉ có sẵn phòng chống bệnh lao: cung cấp một số bảo vệ chống lại các hình thức nghiêm trọng của bệnh lao ở trẻ em, tuy nhiên, không đáng tin cậy bảo vệ người lớn. Vắc-xin mới để thay thế BCG hoặc để tăng khả năng miễn dịch theo bằng BCG đang rất cần để bảo vệ chống lại bệnh lao, bệnh tật và sự tái phát của bệnh. NIAID hỗ trợ cơ bản, tiền lâm sàng và nghiên cứu lâm sàng về vắc xin ứng cử viên lao, trong đó có một loại vắc xin aerosol có hiệu ứng miễn dịch mạnh trong một số ít khỉ nâu và bảo vệ họ chống lại nhiễm trùng phổi với MTB.

Ít nhất một phần ba trong tổng số 37 triệu người sống với HIV trên toàn thế giới đang tiềm tàng nhiễm MTB và 26 lần nhiều khả năng phát triển thành bệnh lao hoạt động hơn so với những người không có HIV, theo WHO. Một thử nghiệm lâm sàng 10 quốc được thực hiện bởi NIAID tài trợ AIDS thử nghiệm lâm sàng Group (ACTG) gần đây đã chứng minh rằng isoniazid, so với phác đồ điều trị lao theo kinh nghiệm bốn loại thuốc tiêu chuẩn, đã có hiệu quả để ngăn ngừa lao cao cấp và giảm tử vong ở người lớn , chống HIV / AIDS tại các khu vực có nguy cơ cao. Một thử nghiệm ACTG khác đang thử nghiệm một phác đồ điều trị mới có chứa các loại thuốc bedaquiline và delamanid để điều trị bệnh nhân MDR-TB. TB cũng làm tăng tốc độ tiến triển của nhiễm HIV chuyển sang AIDS, và là nguyên nhân tử vong hàng đầu liên quan đến nhiễm HIV trên toàn cầu. NIAID hỗ trợ các nghiên cứu khác nhau xem xét phác đồ điều trị tối ưu hóa và cải thiện các xét nghiệm chẩn đoán cho người đồng nhiễm lao và HIV.

Ước tính có khoảng 43 triệu người đã được cứu thông qua chẩn đoán lao thích hợp và điều trị từ năm 2000 đến năm 2014, theo báo cáo của WHO. Tuy nhiên, NIAID vẫn còn nhiều việc phải làm để chấm dứt nạn lang toàn cầu của bệnh lao. NIAID cam kết đấu tranh chống lại bệnh lao và đẩy nhanh việc nghiên cứu toàn diện cần thiết để kiểm soát và cuối cùng loại bỏ căn bệnh này về cổ đại.


                                                  ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~



Anthony S. Fauci, MD, là giám đốc NIAID. Richard Hafner, MD, là giám đốc của chi nhánh nghiên cứu lâm sàng bệnh lao ở giải hạng NIAID AIDS; Christine F. Sizemore, Tiến sĩ, là giám đốc của Mục Lao và Bệnh mycobactarial khác ở giải hạng NIAID vi sinh vật và bệnh truyền nhiễm-.

NIAID tiến hành và hỗ trợ nghiên cứu tại NIH, trên khắp nước Mỹ và trên toàn thế giới - để nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm và miễn dịch qua trung gian, và để phát triển các phương tiện tốt hơn về phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị các bệnh trên. Thông cáo báo chí, và vật liệu NIAID liên quan khác có sẵn trên trang web của NIAID (NIH):.

Về Viện Y tế Quốc gia NIH, cơ quan nghiên cứu y tế của quốc gia, bao gồm 27 viện và các trung tâm và là một thành phần của Bộ Ngoại giaoY tế Mỹ và dịch vụ con người. NIH là cơ quan liên bang chính tiến hành và hỗ trợ nghiên cứu y tế cơ bản, lâm sàng, và điều tra nguyên nhân, điều trị và đề ra phương pháp chữa trị cho cả bệnh thông thường và it hiếm. Để biết thêm thông tin về NIH và các chương trình của ho, hãy truy cập vào www.nih.gov.

Monday, October 12, 2015

Giử gìn thẩm quyền y tế tại Hoa Kỳ

Tại sao chúng ta cần phải nói đến "thẩm quyền y tế " và để được như vậy chúng ta cần làm những gì?

Trong thế giới ngày nay, dịch vụ y tế không còn là câu chuyện áo trắng bác sỉ và quằn mắt thâm đen của bệnh nhân. Mà y tế phải nên là một dịch vụ như bao dịch vu khác trong xả hội, muôn sắc muôn màu và phải chiều theo ý người. Các hoạt động liên quan đến "đa dạng văn hóa" và "thẩm quyền văn hóa" nay đạt được một khán giả khá lớn nhờ sự gia tăng dân số đa dạng văn hóa, nhất là tại Hoa Kỳ. 

Đi sâu vào vấn đề, thì dịch vụ thông dịch ý tế, Medical Interpretation and Translation, cũng nằm trong lỉnh vực "đa dạng văn hóa" và "thẩm quyền văn hóa." Các vấn đề này cũng bao gồm cả quản lý và chuẩn bị lực lượng lao động, làm sao cho đa dạng hơn, để loại bỏ sự khác biệt kết quả sức khỏe, và để đảm bảo sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ trong các cộng đồng văn hóa đa dạng.

Tuy đây là điều chúng ta ít khi nghỉ tới, nhưng đây không phải là vấn để nhỏ nhen. Thẩm quyền văn hóa thật ra luôn gắn chặt với chất lượng chăm sóc y tế và là một vấn đề ảnh hưởng thông qua đến tất cả các hệ thống cung cấp dịch vụ và các nhà cung cấp, bao gồm giáo dục sức khỏe. 

Riêng giáo dục y tế thì cần phải có một nhận thức về giá trị văn hóa và niềm tin, trong quá trình đó, phải công nhận về cách thức chúng ảnh hưởng đến thái độ và hành vi (Randall-David, 1989). 

Ngoài ra, các cơ quan và các tổ chức cũng cần phải đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu về căn bản xuyên văn-hóa của họ qua chính sách, thủ tục, thực hành, và cấu trúc. 

Tôn trọng các giá trị văn hóa, truyền thống và phong tục sẻ tạo nên sự sẵn sàng và khả năng của các cá nhân và tổ chức trong công việc phát triển các dịch vụ can thiệp và chăm sóc sức khỏe. Đó là ảnh hưởng khẳng định.

Các dịch vụ trên nếu có thể áp dụng thành công, thì sẻ có thể mang lại kết quả dịch vụ y tế phù hợp hơn, được sự chấp nhận từ các phiá, và cùng lúc sẻ gia tăng tiếp cận và nâng cao mức độ sử dụng dịch vụ y tế (Epstein, 1998).

Tại sao chúng ta cần phải có một hệ thống dịch vụ y tế đa văn hoá? Vì trong một môi trường đa văn hoá mà giử lại các dịch vụ đơn điệu một chiều, sẻ duy trì mải những dịch vụ thiếu hiệu quả. Đó bởi vì lối trình bày và thi hành tiến trình dịch vụ lổi thời như vậy là thiếu phù hợp, không được chấp nhận, ngăn chận sư tiếp cận của nhiều người, và sau cùng sẻ làm dảm thiểu mức độ sử dụng dịch vụ y tế. 

Thây vào đó, các dịch vụ ý tế bao gồm hết các dịch vụ liên quan, như dịch vụ thông dịch y tế, là "đa dạng văn hóa" và tuân theo "thẩm quyền văn hóa." Dịch vụ này, cũng như nhiều dịch khác, có chút rườm rà, nhưng cũng giúp không it́ cho ngành y tế hiện thời, để đạt được mục tiêu: chăm sóc được nhiều người hơn, cho dù các cá nhân thiểu số, cũng như là gần 2 triệu dân trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Để nhận được toàn bộ quyền lợi và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bạn nên dùng đến thẩm quyền y tế của bạn.  Yêu cầu được có sự trợ giúp của một người thông dịch viên y tế chuyên nghiệp trong cuộc hẹn khám sức khỏe hay một khoa điều trị bệnh tật, đó là một cách để bạn dành lấy và giử gìn thẩm quyền y tế tại Hoa Kỳ.

Các quan điển này đả được nêu ra trong bài Reducing Health Disparities through Cultural Competence, của các tác giả Diana L. Denboba, Judith L. Bragdon, Leonard G. Epstein, Karen Garthright & Thurma McCann Goldmand DOI:10.1080/10556699.1998.10603386, trang S47-S53, tải trên mạng Taylor & Francis Online tháng 2, ngày 22 năm 2013.

Các chuyên ngành nội khoa, gia đình, tâm lý, và nhi là những chuyên ngành mà BS Mỹ AMG không ưa chuộng. Kết quả là các chuyên ngành này là mảnh đất màu mỡ để các BS IMG co the cạnh tranh.

Saturday, September 12, 2015

Vietnamese Americans Language Barriers Need Rescue

Vietnamese Americans (Vietnamese: Người Mỹ gốc Việt) are Americans of Vietnamese descent. We make up about half of all overseas Vietnamese (Người Việt Hải Ngoại) and are the fourth-largest Asian American group.

Mass Vietnamese immigration to the United States started after 1975, after the end of the Vietnam War. The year 2012 marked the 37th year Vietnameses began our presence in America. Early immigrants were refugee boat people fleeing persecution or poverty. Forced to flee from their homeland and often thrust into poor urban neighborhoods, these newcomers have nevertheless managed to establish strong communities in a short amount of time. More than fifty percent of Vietnamese Americans reside in the states of California and Texas.

After suffering from losses of war and psychological trauma, the Vietnamese immigrants had to overcome severe challenges to adapt to a totally different culture. Language was the first barrier that few adult Vietnamese refugees with limited English proficiency could overcome. While English uses inflection to express different meanings of words, Vietnamese is primarily a tonal language and the variation in tone can be used to distinguish meanings of a word. For example, the sound “ma” can have up to six meanings depending on the tonal variation, including “ghost”, “but”, “horse”, “rice plant”, “mother” and “tomb”. Another characteristic of Vietnamese that makes it significantly different from English is its use of status-related pronouns (as with some European languages, such as German). For instance, while the pronoun “you” in English is generally used for one singular second –person, there are many Vietnamese words can be used to refer to a singular second- person, depending on gender like “anh” or “chi”, social status “ong” “ba”, and relationships “ban” “cau” “may."


In 2012, 68% of Vietnamese immigrants were Limited English Proficient,
much higher when compared to other Southeast Asian groups (47%), 
and the total U.S foreign born population (50%). 

We are lagging behind. After claiming our presence in the United States of America for over three decades, only a small percentage of Vietnamese Americans stated that they only spoke English at home (7%), lower than other groups. We Vietnameses still cling onto our original language. How are we going to strike a balance between effectively utilizing a new foreign language while keeping our language at home?

Vietnamese Americans' views toward education is generally positive, sometimes too aggressive for our own good. According to Vietnamese social attitudes, the educational achievements of children can be considered a source of pride for the whole family. Many Vietnamese parents even exert great pressure on their children to excel in school and to enter professional fields including science, medicine and engineering. These parents probably feel insecurity stemming from their chaotic past and from their point of view, education is the only ticket to a better life tomorrow. 

Vietnam's traditionally Confucianist society values education and learning, contributing to success among Vietnamese Americans. Many have worked their way up from menial labor to have their second-generation children attend universities and become successful. Compared to other Asian immigrant groups, Vietnamese Americans are quite optimistic about their children's future. Half of the Vietnamese Americans are confident when envisioning their children's future. They believe that their children’s standard of living will be much better than theirs. According to ACS in 2012, about 23.5 percent of Vietnamese immigrants ages 25 and older had a bachelor's degree or higher.

Sources:
  • Southeast Asian Americans State Populations 2010 U.S. Census. Retrieved 2014-01-02. 
  • Wieder, Rosalie. “Vietnamese American.” In Reference Library of Asian America vol I, edited by Susan Gall, and Irene Natividad, 165-173. Detroit: Gale Research Inc., 1996 
  • Bankston, Carl L. “Vietnamese American.” In Gale Encyclopedia of Multicultural America vol 2, edited by Judy Galens, Anna Sheets, and Robyn V. Young, 1393-1407. Detroit: Gale Research Inc., 1995




Người Việt Xa Xứ


Total population


~4,000,000 (estimates)


Regions with significant populations


 United States

....................................................1,799,632 (2010)
 Cambodia....................................................... 600,000
 France  ....................................................... 300,000 (2012)
 Taiwan........................................................200,000 – 400,000 (2014)
 Australia........................................................210,800 (2010)
 Canada........................................................157,450 (2011)
 South Korea........................................................143,000 (2013)
 Germany........................................................137,000 (2010)
 Malaysia..........................................................70,000
 Czech Republic..........................................................70,000 (2009)
 Japan..........................................................72,238 (2013)
 United Kingdom..........................................................55,000
 Poland..........................................................50,000
 Laos..........................................................30,000 (2012)
 Russia..........................................................26,205 – 150,000 (2006)
 China..........................................................22,517
 United Arab Emirates..........................................................20,000
 Norway..........................................................21,721 (2014)
 Netherlands..........................................................20,603 (2014)
 Belgium..........................................................14,000 (2012)
 Sweden..........................................................11,771 (2003) 
 Thailand..........................................................10,000
 Denmark............................................................8,575 (2002)
  Switzerland............................................................8,173
 Qatar............................................................8,000 (2008)
 New Zealand............................................................6,660 (2013)
 Finland............................................................4,000
 Ukraine............................................................3,850 (2001)
 Italy............................................................3,000 (2005)
 Slovakia............................................................3,000
 Bulgaria............................................................1,500 (2005)
 Hong Kong............................................................1,400




MISSION

The Association of United Vietnamese Interpreters is hereby bound together as a group to serve a common purpose, attend to our mutual needs for Professional Support, Industry Resource and Guidance.

VISION

The world has gone global, so have the Vietnamese people, culture and language. Instead of turning around among our small circles of others, we live at a time in which we must reach out. As we do so, whose hands are we going to touch?

With the establishment of this association, I hope to fulfill that question. Vietnameses are now living and working at every corner of the world, from Bangkok, to Manila, Paris, London, Nepal, Quebec and the hundreds of major cities across Asia, Europe and the North America Continent.

In reaching out, we hope to reach those who will support our mission and vision, sharing our interests and will empower us in our endeavors. 

While Vietnamese interpreters are reaching out, we must at the same time reaching in. We must help one another to enrich our understanding of the Vietnamese language as it evolves. Also, by joining together, we will create a lively spirit for what we do, Vietnamese interpretation and translation.

As a Vietnamese bilingual person, wherever you live or work, I urge that you will join in to further our mission.